Tác hại khi sử dụng nguồn nước nhiễm chì

Chì có tính độc cao đối với con người và động vật. Sự thâm nhiễm chì vào cơ thể con người từ rất sớm từ tuần thứ 20 của thai kì và tiếp diễn suốt kì mang thai. Trẻ em có mức hấp thụ chì cao gấp 3-4 lần người lớn. Mặt khác thời gian bán sinh học chì của trẻ em cũng dài hơn của người lớn. Chì tích đọng ở xương . Trẻ em từ 6 tuổi trở xuống và phụ nữ có thai là những đối tượng mẫn cảm với những ảnh hưởng nguy hại của chì gây ra.

Chì cũng cản trở chuyển hóa canxi bằng cách trực tiếp hay gián tiếp thông  qua  kìm hãm sự chuyển hóa vitamin D. Chì gây độc cả cơ quan thần kinh trung  ương lẫn thần kinh ngoại biên.

Chì tác động lên hệ enzyme, đặc biệt là enzyme vận chuyển hiđro. Khi bị nhiễm độc, người bệnh bị một số rối loạn cơ thể, trong đó chủ yếu là rối loạn bộ  phận tạo huyết (tủy xương) . Tùy theo mức độ nhiễm độc có thể gây ra những tai  biến như đau bụng chì, đường viền đen Burton ở lợi, đau  khớp,  viêm thận, cao  huyết áp vĩnh viễn, liệt, tai biến lão nếu nặng có thể gây tử vong. Tác dụng hóa sinh của chì chủ yếu gây ảnh hưởng đến tổng hợp máu, phá vỡ hồng cầu. Chì ức chế một số enzyme quan trọng trong quá trình tổng hợp máu do tích đọng các hợp chất trung gian của quá trình trao đổi chất. Chì kìm hãm quá trình sử dụng  O2 và glucozo để  sản xuất năng lượng cho quá trình sống. Sự kìm hãm này có thể nhận thấy khi nồng độ chì trong  máu khoảng 0,3mg/l. Khi nồng độ chì  trong máu lớn hơn 0,8mg/l có  thể gây ra hiện tượng thiếu máu do thiếu hemoglobin.  Nếu hàm lượng chì  trong  máu khoảng 0,5-0,8mg/l sẽ gây rối loạn chức năng của thận và phá hủy não. JECFA đã thiết lập giá tri tạm thời cho lượng chì đưa vào cơ thể có thể chịu đựng được đối với trẻ sơ sinh và thiếu nhi là 25mg/kg thể trọng.

Hơn 90% lượng chì trong máu tồn tại trong hồng cầu. Dạng lớn nhất và tốc

độ chậm là trong khung xương, chu kì bán hủy là 20năm, dạng không bền hơn nằm

trong mô mềm. Tổng số tích lũy suốt đời của chì có thể   từ 200mg-500mg. Chì   trong hệ thần kinh trung ương có xu hướng tích lũy trong đại não và nhân tế bào.

Triệu chứng ngộ độc chì gồm: đau bụng trên, táo bón, nôn mửa. Ở trên lợi của bệnh nhân, ngưới ta nhận thấy một đường xanh  đen do chì sufua đọng lại.  Chứng viêm não tuy rất hiếm nhưng lại là biến chứng nghiêm trọng ở người trong trường hợp nhiễm độc chì, trường hợp cũng thường hay gặp ở trẻ em.

Bệnh thiếu máu: thiếu máu thường xuyên xảy ra trong trường hợp nhiễm độc   chì vô cơ và thường xảy ra trong giai đoạn cuối, nhưng ngay khi nhiễm độc chì, người ta đã phát hiện rối lọan tổ hợp máu.

Sự kìm hãm tổ hợp máu là yếu tố gây ra bệnh thiếu máu do chì nhưng chì cũng tạo ra những tác động trực tiếp đến hồng cầu. Tính thấm hút của màng bị thay đổi tùy thuộc vào lượng kali bị mất và thời kì bán phân hủy của hồng cầu bị  rút  ngắn. Ngoài ra còn có những thay đổi trong quá trình trao đổi sắt và những tế bào chứa sắt cũng xuất hiện trong máu và tủy xương. Lượng sắt trong huyết thanh tăng lên.

Mức độ nguy hiểm tùy thuộc vào độ tuổi và tình trạng của cơ thể và nguy hiểm chính là độc hại tới hệ thần kinh. Hầu hết nhạy cảm với chì là trẻ em, đặc biệt  là trẻ em mới tập đi, trẻ sơ sinh và bào thai. Trẻ sơ sinh, trẻ em dưới 16 tuổi và phụ nữ có thai là đối tượng nhạy cảm nhất với độc tố chì, tác động mãn tính đến sự phát triển trí tuệ của trẻ em. Với những phụ nữ có thai thường xuyên tiếp xúc với chì khả năng xảy thai hoặc thai nhi chết sau khi sinh là rất lớn. Với trẻ em, hệ thần kinh   đang phát triển rất nhạy cảm khi bị nhiễm chì dù ở nồng độ thấp, hệ số thông minh (IQ) giảm xuống. Đối với người trưởng thành, công việc thường xuyên tiếp xúc với chì quá mức hoặc do gặp sự cố có thể bị nhiễm bệnh thần kinh ngoại vi hoặc thần kinh mạn tính. Tuy nhiên ở người lớn các ảnh hưởng cấp tính hay hầu hết các ảnh hưởng nhạy cảm của chì có thể là bệnh tăng huyết áp. Ngoài ra khi nhiễm độc chì  còn có thể ảnh hưởng dến một số cơ quan khác trong cơ thể  như dạ  dày, ruột non,  cơ quan sinh sản.

LỌC NƯỚC THÁI VIỆT 0913709606 2012 Frontier Theme